CHẾ ĐỘ DINH DƯỠNG VỚI BỆNH XƠ VỮA ĐỘNG MẠCH

 

Xơ vữa động mạch vừa là nguyên nhân gây ra các bệnh suy tim, nhồi máu, đột quỵ, vừa là hậu quả của một chế độ dinh dưỡng bất hợp lí không tính đến cách phòng ngừa.

Rất có thể bệnh xơ vữa động mạch là nguyên nhân hàng đầu của các bệnh gây tử vong cao ở hầu hết các nước phát triển. Hàng năm, số người ở độ tuổi 40-50 bị tử vong do mắc các bệnh liên quan đến tim mạch chiếm tới 16%. Con số này là 30% với người ở độ tuổi 50-60 và lên tới 50% và những người 70-85 tuổi.

Điều đáng ngạc nhiên là nguyên nhân cơ bản nhất gây ra xơ vữa động mạch không phải vì các mạch máu mất tính đàn hồi. Nhiều người biết rằng nguyên nhân chính gây bệnh là các mạch máu bị tắc nghẽn. Chất gây ra nghẽn mạch là cholesterol, một loại chất bám vào vách mạch từ khi người ta còn ít tuổi.

Hiện tượng xơ vữa làm tổn thương tất cả các mạch, nhưng những mạch chủ có khả năng lưu thông tốt, nên các mạch nhỏ thường là những điểm yếu. Khi dòng chảy của các mạch máu phụ bị tắc nghẽn, không chảy được vào động mạch, máu không cung cấp đủ ôxi đã gây ra các bệnh tim – mạch (đau nhói hay đau thắt ngực, suy tim, và nếu các cơ tim bị ảnh hưởng sẽ dẫn tới nhồi máu cơ tim). Nếu một mạch máu nhỏ nào đó ở vùng não bị tắc nghẽn thì sẽ có hiện tượng rối loạn thần kinh tạm thời (suy yếu, nhức đầu, lẫn lộn). Nếu sự tắc nghẽn thường xuyên kéo dài sẽ gây ra liệt một phần não, nguyên nhân của bệnh đột quỵ kèm theo bị liệt.

Việc cải thiện chế độ dinh dưỡng mang lại hiệu quả rõ rệt, tuy nhiên những nguyên nhân khác (bỏ thuốc lá, luyện thể thao) cũng có vai trò tích cực. Tuy vậy, bệnh nhồi máu và đột quỵ vẫn còn là nguyên nhân cơ bản đe dọa tới sức khỏe của đàn ông, trong khi đó chế độ dinh dưỡng phù hợp có thể triệt tiêu nguy cơ này. Chắc chắn bạn hiểu được rằng chúng ta đang bàn đến chế độ ăn có nhiều rau xanh, thực phẩm có nhiều chất xơ, ít chất béo và thịt – là chế độ ăn do các chuyên gia dinh dưỡng đưa ra trong vài thập kỉ qua. Để tránh bệnh xơ vữa cần phải áp dụng chế độ ăn kiêng ngay từ khi còn trẻ, nhưng bắt đầu vào lúc nào cũng không muộn. Người ta đã chứng minh được rằng, những người có lượng cholesterol cao nếu áp dụng chế độ dinh dưỡng phù hợp có thể hạ thấp tỉ lệ này.

 

DINH DƯỠNG VÀ BỆNH UNG THƯ

Ở những người không hút thuốc lá thì tuyến tiền liệt, trực tràng, bàng quang là những nơi dễ sinh ra ung thư nhất.

– Ung thư tiền liệt tuyến

Theo con số thống kê, một căn bệnh phổ biến của đàn ông, nhưng trong vài thập kỉ qua, con số mắc bệnh tăng không đáng kể. Qua đó chứng minh một điều là, chế độ dinh dưỡng là một biện pháp phòng ngừa hữu hiệu.

– Ung thư đại tràng và trực tràng

Ít gặp gấp hai lần ung thư tiền liệt tuyến. Chất béo làm tăng nguy cơ mắc loại bệnh này. Tăng thêm số lượng chất xơ, giảm chất béo sẽ góp phần giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh vì chế độ ăn đó làm tăng lượng chất thải qua ruột và thải các chất gây ung thư hay thay đổi thành phần các vi khuẩn cư trú trong ruột.

– Ung thư bàng quang

Là bộ phận lọc tất cả các chất thải lỏng của cơ thể, thận là nơi tập trung tất cả các độc tố, kể cả các chất gây ung thư của môi trường xung quanh, nguyên nhân gây ung thư bàng quang. Đàn ông chiếm đến 80% người mắc bệnh này, đặc biệt là cấu tạo của đàn ông càng làm tăng thêm mức độ nguy hiểm của căn bệnh. Đàn ông thường hay hút thuốc hơn phụ nữ, mà hút thuốc làm tăng nguy cơ gây bệnh gấp đôi. Đàn ông cũng chiếm tỉ lệ đông trong các ngành thường tiếp xúc với hóa chất như: thợ đúc, thợ cao su, thợ sơn, thuộc da là những công việc dễ gây ra ung thư loại này. Nhưng không có bất kì một chế độ ăn kiêng nào tăng nguy cơ mắc bệnh. Có thời kỳ các báo chí thổi phồng sự nguy hại do các loại thực phẩm có chứa côphein và đường hóa học, nhưng những nghiên cứu sau đó không khẳng định điều này. Các loại vitamin và khoáng chất đề cập dưới đây có thể làm tăng chức năng đề kháng của các cơ quan trong cơ thể.

– Ung thư tuyến tụy

Căn bệnh này ít phổ biến hơn ba căn bệnh kể trên. Tuy nhiên bệnh này rất khó chịu và chắc chắn chỉ kéo dài được một năm, là loại bệnh chiếm vị trí thứ 5 trong các bệnh hàng đầu gây tử vong như ung thư phổi, tuyến tiền liệt, ruột và bàng quan. Tuyến tuỵ nằm sâu trong ổ bụng nên rất khó khám thấy, hơn nữa, ở các giai đoạn đầu biểu hiện của bệnh không phát ra ngoài.

Trong hơn nửa thế kỉ XX số người mắc ung thư tuyến tuỵ tăng lên, nhưng từ những năm 70 con số này chững lại, nó phù hợp với số lượng người bỏ thuốc (hút thuốc làm tăng gấp đôi nguy cơ mắc bệnh) và số người có tuổi thọ cao tăng. Tỉ lệ đàn ông mắc bệnh cao gấp ba phụ nữ. Hầu hết người mắc bệnh là đàn ông trên 60 tuổi.

Để giảm nguy cơ mắc bệnh hãy bỏ thuốc và áp dụng chế độ dinh dưỡng ít chất béo.

Chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc đề phòng bệnh ung thư. Các nghiên cứu cho thấy tác dụng tốt nhất là các loại rau họ cải (cải bắp, xúp lơ). Tăng khẩu phần các loại cây họ hành (hành khô, hành tươi, tỏi) làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư dạ dày. Những hợp chất hóa học tạo cho các loại cây đó có mùi đặc biệt, góp phần làm giảm cholesterol và có tác dụng giải cảm.

Những người theo trường phái sống gần tự nhiên phê phán việc sử dụng phụ gia trong sản xuất thực phẩm hiện đại và không tán thành cả quy trình này. Nếu được phép lựa chọn thì chỉ nên ăn những thực phẩm tươi có nguồn gốc tự nhiên, các chất phụ gia không làm tăng giá trị thực phẩm, nhưng cũng cần thận trọng xem xét những phương pháp bảo quản và đóng hộp theo công nghệ cũ. Nhiều phương pháp chế biến thực phẩm truyền thông làm tăng nguy cơ gây ung thư. Thậm chí ở các nước rất phát triển như nước Nhật, người dân rất thích ăn các loại đồ muối, đồ hun khói, các loại mắm thì con số người bị mắc bệnh ung thư ở các cơ quan tiêu hóa như thực quản và dạ dày rất cao.

Người ta đã chứng minh được, rằng các vitamin A, C là những chất góp phần chống u ác rất hữu hiệu.

Nếu chế độ dinh dưỡng đúng có thể ngăn được bệnh xơ vữa thì nó cũng là một biện pháp phòng ngừa ung thư. Chế độ dinh dưỡng cân đối có thể góp phần giảm từ 30-50% tỉ lệ bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh.

Khi không nấu chín, súp lơ xanh chứa một lượng nhỏ chất có khả năng bảo vệ AND trước sự tấn công của các enzyme ôxy hóa – tác nhân gây ung thư. Dưới tác động của hoạt động nhai, các tế bào súp lơ xanh bị đứt gãy và giải phóng một loại enzyme đặc biệt. Enzyme này sinh ra một chất hóa học gọi là sulphoraphanes. Một số phân tử chất hóa học này được gắn thêm một nguyên tử sulphur, trở thành chìa khóa để vận hành cơ chế đối kháng các độc tố sinh ung thư. Bên cạnh đó, trong súp lơ xanh còn có thêm protein ESP với nhiệm vụ tạo ra sự cân bằng cho các sulphoraphanes kém sulphur.

Tuy nhiên, súp lơ xanh nấu chín sẽ mất hết tác dụng chống ung thư. Nguyên nhân là do nhiệt độ cao sẽ phá hủy enzyme và chất ESP, làm xáo trộn sự cân bằng của sulphoraphanes. Hơn nữa, lượng sulphoraphanes có đính thêm sulphur trong súp lơ xanh rất nhỏ, chỉ chiếm khoảng 20% tổng số sulphoraphanes và rất dễ bị vô hiệu hóa. Các thành phần còn lại không có đủ nguyên tố sulphur hữu ích, nên không có khả năng kháng bệnh.

Post Your Thoughts